†™The Best Friends™†
Chào mừng bạn đã ghé thăm diễn đàn Blog A7.

+ Đây là nơi hội tụ kết nối và chia sẽ giữa các thành viên

+ Nếu bạn muốn tham gia để có thể giao lưu kết bạn,học hỏi và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.

+ Nếu tập thể lớp bạn muốn tham gia tại đây,hãy đề nghị với chúng tôi,chúng tôi sẻ dành một không gian riêng cho lớp bạn!

* Còn chờ gì nữa?Đăng kí ngay hôm nay để tham gia cùng chúng tôi. Chúc các bạn vui vẻ!

†™The Best Friends™†


 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  


Các loại súng sử dụng chiến tranh ở Việt Nam của Mỹ>>>>Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Mon Jun 14, 2010 6:28 am
avatar
yoci113
ܓܨмr¸Mεmღ
ܓܨмr¸Mεmღ
Bài gửi Bài gửi : 23
Points Points : 65
 . . : 2
. . : Nam

Bài gửiTiêu đề: Các loại súng sử dụng chiến tranh ở Việt Nam của Mỹ>>>>
Xem lý lịch thành viên

M-16A1, 5.56mm Assault Rifle



[You must be registered and logged in to see this image.]



This is the weapon most commonly associated with US troops in Vietnam.
Despite early problems with the weapon it has now become a respected
assault weapon. The 5.56mm M16A1 is a gas operated magazine-fed rifle
capable of semi-automatic and automatic fire with an effective range of
300 meters and a practical rate of fire of 60 rpm.



Đây là loại súng thường được sử dụng cho lính Mỹ tại
VN. Mặc dù có những trục trặc nhỏ nhưng nó đã trở thành một loại được
ưa sử dụng để đột kích. Khẩu M16A1 với đạn 5.56 ly được vận hành bằng
hơi nén với khả năng tự động và bán tự động trong tầm bắn 300 mét và độ
nhạy là 60 vòng một phút. (chuyên môn quá, dịch không sát)




CAR-15, 5.56mm Assault Rifle



[You must be registered and logged in to see this image.]



The XM-177E2, commonly known as the Colt Commando. This is a shortened
version of the M-16 with a telescoping stock. The CAR-15 was very
popular with special ops troops but saw only limited use with line
units.



Khẩu XM-177E2 thường được biết với tên Colt
Commando. Đây là phiên bản thu nhỏ của M-16 với khe gắn ống nhòm.
CAR-15 rất thông dụng cho lính càng quét (Thủy quân lục chiến) nhưng
lại chỉ được sử dụng có giới hạn trong lính phòng tuyến.




BROWNING .50 Cal Machine Gun



[You must be registered and logged in to see this image.]



M-60, 7.62mm GPMG



[You must be registered and logged in to see this image.]



The 7.62mm M60 general purpose machine-gun (GPMG) was employed in a
light role on it's bipod (effective range 500 meters) or in a medium
role on a tripod (effective range 1,100 meters) as well as being used
as protective armament on vehicles and helicopters. Gas operated, air
cooled and belt fed, with a quick-change barrel to counter overheating
during sustained firing, it has a practical rate of fire of 200 rpm
(550 rpm max). In Vietnam it was the main firepower of the infantry
rifle section. With bipod the M60 weighs 10.5 kg (23 pounds), which
increases by 6.8kg (15 pounds) if a tripod is added (Total 38 pounds
minus ammo).



Khẩu 7 ly 62 M60 là loại súng máy tầm gần được vận
hành trên giá hai chân của nó, và có tầm hoạt động 500 mét hoặc với tầm
xa là 1100 mét trên đế ba chân. Dùng để phòng thủ trên các xe cơ giới
và trực thăng. Bắn bằng hơi và thoát nhiệt bằng không khí. Có chế độ
thay băng đạn nhanh trong khi bắn. Độ nhậy 200 vòng một phút (tối đa
đạt 500 vòng). Tại Việt Nam, nó là hỏa lực chính của bộ binh. Cộng với
đế 2 chân, M60 nặng 10.5 Kg, và thêm 6.8 kg nếu có thêm đế 3 chân. Tổng
cộng là 38 lbs không kể đạn.




BROWNING .30 Cal Machine Gun



[You must be registered and logged in to see this image.]



M-72, 66mm Light Anti-tank Weapon (LAW)



[You must be registered and logged in to see this image.]



Weighing 2.37-kg (5.2 pounds) complete, the LAW was designed as a
discardable one-man rocket launcher primarily for use as an anti-tank
weapon. In Vietnam however, the LAW was used almost exclusively as a
bunker buster or for attacking entrenched enemies. When carried, the
smooth-bore launcher tube was carried closed, and was watertight. In
action, the end covers were opened by removing safety pins and the
inner tube was telescoped outwards. This cocked the firing mechanism.
Held over the shoulder, aimed by the simple sights, the weapon was
fired by pressing the trigger button. The LAW Fired a 1-kg rocket to a
maximum effective range of 300m. The rocket motor was fully burnt out
by the time it left the launcher and resulted in a large back-blast
danger area behind the firer. Once fired the tube was discarded. Due to
it's low weight, a number of complete assemblies could be carried in a
squad with each person capable of packing at least two if necessary.



Nặng 2.37 kg, khẩu LAW được thiết kế có thể phóng
rocket (lựu) để có thể chống xe tăng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, LAW được
dùng riêng cho việc phá boongke hoặc tấn công hào địch. Khi di chuyển,
vị trí phóng lựu được giữ sát thân và được làm kín không cho vô nước.
Trong chiến dịch, phần bảo vệ được mở ra cẩn thận và trở thành ống
ngắm. Được giữ trên vai, ngắm mục tiêu tiêu đơn giản và bấm nút cò để
bắn. Rocket của LAW nặng 1 kg và phá hủy diện rộng 300 mét. Động cơ
phóng lựu sẽ cháy hoàn toàn mỗi khi phóng lựu gây nên sự nguy hiểm phía
sau đuôi của LAW. Mỗi lần phóng lựu là mỗi lần phải thay ống phóng lựu
mới. Để giảm trọng, mỗi người trong tiểu đoàn có thể đem theo 2 ống lựu
khi cần thiết




M-20, 3.5 inch Rocket Launche



[You must be registered and logged in to see this image.]



Often referred to as the 'Super Bazooka', the M20 was developed from
the earlier 2.36-inch M9A1 rocket launcher. Although used in Vietnam,
the M-20 was on it's way out of service. It was however a very useful
weapon when used against enemy fortifications. The M20 weighed 5.5-kg
and was a simple rocket launcher, firing a hollow-charge 4-kg HEAT
rocket to relatively short ranges of 1200-meters. It was operated by a
two-man team and had a rate of fire of six shots per minute. When
carried, the long tube was folded into two for easier handling. In
action a rocket was loaded into the open breech and two wires were
attached to electrical terminals. When the trigger was pulled, a small
electrical current ignited the rocket motor and propelled the rocket
forward, leaving a large and dangerous back-blast area to the rear of
the launcher.



Thường được ám chỉ là Siêu Ba Zô Ka, M20 được phát
triển từ phiên bản sớm của súng phóng lựu M9A1. Mặc dù được dùng tại
Việt Nam, M20 đã không còn sản xuất nữa. Nó là một vũ khí hữu dụng khi
dùng để phá hủy công sự của địch. M20 nặng 5.5 Kg và chỉ là súng phóng
lựu. Có thể nạp 4 kg Heat rocket để phá hủy tầm ngắn trong phạm vi 1200
mét. Được vận hành bởi 2 binh lính và đạt 6 lần bắn trong một phút. Khi
vận chuyển, nòng dài được gấp đôi lại để dễ dàng cầm. Khi vận hành,
rocket được nạp vô khóa nòng đã mở và hai dây điện để đánh lửa. Khi cò
được bóp, dòng điện sẽ kích hoạt mô tơ và phóng lựu đi, để lại áp lực
nguy hiểm ở phía sau nòng súng.






M-203, 40mm Grenade Launcher



[You must be registered and logged in to see this image.]



The combination M16A1 automatic rifle and M203 (a version of the M79)
grenade launcher was produced to avoid the problem of a Grenadier
having to carry a grenade launcher as well as a weapon for personal
protection and hence allowing him to also function as a rifleman. The
40mm grenade launcher was used to provide additional fire support for
the infantry by delivering high explosive, parachute flares and
canister rounds. The high explosive had a maximum range of 400 meters
and a casualty radius of 5 meters.



Là sự kết hợp giữa súng trường tự động M16A1 và súng
phóng lựu M203 (phiên bản của M79), nhằm cải thiện những lỗi của
Grenadier khi di chuyển và phát triển thành vũ khí cá nhân. Binh lính
có thể tự bảo vệ và hành động trong chiến dịch tự do hơn. Lựu đạn 40 mm
được dùng để tăng hỏa lực cho bộ binh và cộng thêm pháo sáng cùng hộp
tiếp đạn. Tầm nổ của lựu đạt đến 400 mét và tầm tử thương có bán kính 5
mét




M-79, 40mm Grenade Launcher



[You must be registered and logged in to see this image.]



Commonly known as the 'Thumper' or 'Blooper', this weapon first
appeared during the Vietnam war and closely resembled a large bore,
single barrel, sawn-off shotgun. The first M79 Grenade launchers were
delivered to the US Army in 1961.



Thường được gọi là Thumper/ Blooper. Xuất hiện trong
suốt cuộc chiến tại Việt Nam và trông tương tự như nòng lơn, và nòng
đơn, và súng cưa nòng của M79 đầu tiên được phục vụ quân đội Mỹ năm
1961.




The M79 was designed as a close support weapon for the infantry, with
two weapons being issued to each rifle squad. The tactical use of the
weapon required the gunner (grenadier) to be dedicated to the weapon
and only carried a pistol as a side arm. the M79 was intended to bridge
the gap between the maximum throwing distance of a hand grenade, and
the lowest range of supporting mortar fire - between 50 and 300 meters
- and thus gave the squad an integral indirect fire weapon. With a
length of 737mm (barrel = 355mm) and a loaded weight of 3kg, (6 and a
half pounds) the M79 was an ideal weapon in the close terrain of
Vietnam.



M79 được thiết kế cho bộ binh, một trong hai vũ khí
cá nhân trong bộ binh.Chiến binh được yêu cầu có một vũ khí chuyên dụng
và một khẩu súng lục mang theo bên mình. M79 được coi là cầu nối giữa
súng phóng lựu tầm xa và súng cối tầm gần (50 đến 300 mét) và do đó trở
thành vũ khí không thể thiếu trong một đội binh. Với chiều dài 737 mm
(nòng dài 355 mm) cộng với đạn nặng 3kg, M79 là một vũ khí chiến lược
đối với địa hình của Việt Nam.




The M79 was a single shot, shoulder fired, break-barrel weapon which
fired a spherical 40mm diameter grenade loaded directly into the
breech. It had a rubber pad fitted to the shoulder stock to absorb some
of the shock. The M-406 40mm HE grenades fired from the M79 traveled at
a muzzle velocity of 75 meters per second, and contained enough
explosive within a steel casing that upon impact with the target would
produce over 300 fragments at 1,524 meters per second within a lethal
radius of up to 5 meters. Stabilized in flight by the spin imparted on
it by the rifled barrel the grenade rotated at 3,700rpm, this in turn,
after approximately 15 meters of flight, armed the grenade.



M79 bắn từng phát một, vũ khí nòng rời với cầu lửa
đường kính 40 mm được nạp trực tiếp vào khóa nòng. Có một miếng lót cao
su để tì súng lên vai và giảm shock. Lựu đạn M406 40 ly HE rời khỏi
nòng của M79 đi với vận tốc 75 mét một giây, và chứa lượng chất nổ
trong vỏ bọc thép, khi nổ có thể văng ra hơn 300 mãnh vụn với vận tốc
1524 mét một giây, với bán kính sát thương là 5 mét. Đạn đạo bay ổn
định vì lựu đạn xoay trong không trung với vận tốc 3700 vòng một phút
do vòng xoáy trong nòng tạo ra.




For close range fighting the Army came up with two types of M79 rounds.
The first was a flechette round ( or Bee Hives round) which housed
approx 45 small darts in a plastic casing, these rounds were issued on
an experimental basis. Later this round was replaced by the M-576
buckshot round. This round contained twenty-seven 00 buckshot which on
firing was carried down the barrel in a 40mm plastic sabot which slowed
down in flight so that the pellets could travel in their forward
direction un-aided. The M79 could also fire smoke grenades (both
standard and parachute), CS gas, and flares.



Chiến đấu tầm gần, có 2 loại M79. Loại đầu tiên là
đạn hình mũi tên, được giữ 45 viên nhỏ trong hợp plastic, loại này được
thực đưa ra trên thực tế thí nghiệm. Sau đó, loại đạn này được thay thế
bằng đạn chì của M576 . Loại đạn này bao gồm 27 00 đạn chì nhỏ được đúc
và đem theo trong hộp nhựa 40 mm, nó bay chậm hơn trong đạn đạo nhưng
dễ tới đích theo mong muốn. M79 cũng là súng bắn lựu đạn khói (loại
tiêu chuẩn và loại rơi chậm có dù), bắn khí CS và bắn lửa.




The M79 had a large flip up sight situated half way down the barrel,
with a basic leaf foresight fixed at the end of the barrel. The rear
sight was calibrated up to 375 meters (410 yds) in 25 meter (27.3 yds)
intervals. In the hands of a good experienced Grenadier the M79 was
highly accurate up to 200 meters. Later in the war the M79 was
superseded by the M203.



M79 có một lá ở đầu ruồi, cho biết tầm nhìn phía sau
xa đến 375 mét trong khoảng cách 25 mét. M79 là vũ khí phóng lựu cầm
chính xác trong phạm vi 200 mét. Sau này, M79 được thay thế bằng M203




M-67, 90mm Recoilless Rifle



[You must be registered and logged in to see this image.]



Measuring 1,346-mm (53-inches) in length and weighing in at a hefty
16-kg (35-lbs), the M-67 was intended for use against AFV's and bunkers
as a portable crew served weapon. It was a breech-loaded, single-shot
weapon which was shaped like a long tube with the sight assembly and
firing mechanism offset to the side in opposite directions about half
way along the barrel. The breech was hinged on the right side, and had
to be swung open to load the round. It was then swung closed and when
the rifle was fired, the rear end of the shell case broke up and was
blown out of the back of the breech block.



Chiều dài 1346 mm, và nặng 16 kg. M67 dùng để phá
hủy AFV (???) và boongke như một thứ vũ khí di động linh hoạt trong
quân đội. Đạn nạp trong khóa nòng, và bắn phát đơn. Có hình dạng ống
dài với có thể tháo ráp, và phần đuôi dài khoảng nửa thân của nòng.
Khóa nòng có bản lề ở bên phải và được gập lại để nạp đạn. Khi bắn,
phần vỏ ở đuôi sẽ bị đẩy ra ngoài khoá nòng.




Capable of maintaining a sustained fire rate of 1 round per minute, the
weapon could be fired at an increased rate of 1 round every 6 seconds
(10 rpm) by a well trained crew. However, due to excessive heating at
this rate of fire, it was necessary to allow the weapon a 15-minute
cooling period after each 5 rounds fired.



Có khả năng duy trì liên tục tốc độ bắn mỗi phát một
phút. Súng có thể được tăng tốc độ lên 1 phát mỗi sáu giây khi được sử
dụng thuần thục. Tuy nhiên, do sức nóng quá cao nên phải làm nguội 15
phút sau mỗi 5 phát bắn.




The maximum range of the M-67 was 400-meters (437-yds) and was sighted
to 800-meters (875-yds) although the shell could actually be fired out
to 2,000-meters (2,187-yds).

Tầm phá hủy tối đa của M67 là 400 mét, và tầm ngắm rộng 800 mét mặc dù lượng khói xa 2000 mét



Requiring a crew of three (gunner, assistant gunner and ammo bearer)
the M-67 fired a 9.5-lb M371E1 HEAT round and could be shoulder fired
or ground mounted.

Yêu cầu một tổ có 3 người, một người bắn, một trợ
giúp và một khuân vác đạn. M67 sử dụng loại lựu đạn 9.5 pounds và có
thể sử dụng vác qua vai hoặc để trên mặt đất.




M-1911A1, .45 Automatic Pistol



[You must be registered and logged in to see this image.]



M-14, 7.62mm Rifle



[You must be registered and logged in to see this image.]



Until the introduction of the M-16, the M-14 was the standard rifle of
the US forces and saw service in Vietnam from 1957 onwards until its
replacement. The M14 national Match (Accursed) was the sniper rifle
variant, later renamed the M-21.

Cho đến khi có sự ra đời của M16, M14 được coi là
tiêu chuẩn cho quân đội Mỹ và được nhìn thấy phục vụ trong chiến tranh
từ năm 1957 cho đến khi nó được thay thế. M14 dùng cho bắn tỉa và đổi
tên thành M21




Production of the M14 ceased in 1964 but a further variant was the
M14A1 which came close to being a light machine-gun. The M14A1 had a
pistol grip, a folding fore-hand grip about half-way down the
forestock, a folding bipod, a shoulder strap, and a sleeve was fitted
over the muzzle to act as a compensator when firing fully automatic.
This helped to keep the barrel down and prevent climb.

M14 dừng sản xuất năm 1964 nhưng có sử biến đổi
thành M14A1, một loại súng máy loại nhẹ. M14A1 có báng, báng gấp và có
chân đế gấp được, dây đeo, và khóa để cài chế độ tự động. Cải tiến đó
giúp cho nòng súng giữ hướng xuống và không bị tuột.




The M-14 was adopted in 1957 as the successor to the WWII M-1 Garand, and was basically an evolution of that rifle.

M14 xuất hiện năm 1957 là người thừa kế của WWII M1 Garand và là nền tảng để phát triển các loại súng trường.



The main and more obvious improvements were the gas system and
magazines. On the M-1 the magazine was fixed and had to be loaded using
a charger. On the M-14, detachable 20-round box magazines were used.
The normal M-14 fired semi-automatic only. A slide-on bipod could be
provided, and the rifle fitted the M-76 grenade launcher which was
slipped on to the flash suppressor and secured to the bayonet lug.

Sự chính yếu và đáng quan tâm trong sự cải tiến là
hệ thống nén khí và ổ đạn. Ổ đạn của M1 phải được nạp đạn mỗi phát bắn,
trong khi đó M14, có hộp tiếp đạn 20 viên. M14 loại thường chỉ bắn ở
chế độ bán tự động, có thể được cài trên chân đế kèm theo. Súng có thể
gắn thêm súng phóng lựu M76 hoặc bộ giảm thanh hoặc lưỡi lê




The M-14 weighed 5.1-kg (11.22 pounds) with a full magazine and
cleaning kit carried. It had a maximum effective range on
semi-automatic without the M-2 bipod of 460-meters. When the bipod was
added this range increased to 700-meters.

M14 nặng 5.1 kg khi đầy đạn và dụng cụ lau chùi. Bắn
không chân đế ở chế độ bán tự động, tầm bắn là 460 mét, và có chân đế
là 700 mét.




A special suppressor was fitted to the muzzle of the sniper rifle which
did not affect the performance of the bullet, but reduced the velocity
of the emerging gases to below that of sound. This made location very
difficult as the target heard only the crack of the bullet and no shot
from the rifle.

Bộ giảm thanh của những tay bắn tỉa không ảnh hưởng
đến đạn đạo nhưng giảm tốc độ của đạn. Âm thanh được giảm đán kể khi
bắn có bộ phận giảm thanh.




M-1 Carbine



[You must be registered and logged in to see this image.]



Cal .38 Special



[You must be registered and logged in to see this image.]










QUÂN GIẢI PHÓNG




AK-47 7.62mm ASSAULT RIFLE



[You must be registered and logged in to see this image.]



Easily recognized with its high front sights, large selector/safety
switch on the right side and the long, curved banana magazine, this is
the Soviet version with a conventional wooden buttstock. The AK-47 is a
gas-operated, magazine-fed rifle which has a semiautomatic ROF of 40
rounds (effective range about 400 meters), increasing to 100 rounds on
fully automatic (effective range about 300 meters). It has a 30 round
detachable box magazine. Renowned for it's durability, the AK-47 is
shorter and heavier than the M-16 but with a lower ROF and muzzle
velocity.

Dễ dàng nhận ra vẻ bề ngoài với đầu ngắm cao, bộ
khóa an toàn và chọn chế độ bắn bên phải nòng, băng đạn dài và cong
hình quả chuối. AK47 của Xô Viết (Soviet - Liên Xô cũ) có báng gỗ. AK47
hoạt động bằng hơi, nạp đạn tự động và có chế độ bắn bán tự động, ROF
là 40 vòng (tầm bắn ở cự ly 300 m), có thể đạt tối đa 100 vong ở chế độ
tự động hoàn toàn. Nổi tiếng bởi độ bền của nó, AK 47 ngắn hơn và nặng
hơn M16 nhưng có số ROF thấp hơn và tốc lực nòng thấp hơn.


SIMONOV 7.62mm SELF-LOADING RIFLE (SKS)



[You must be registered and logged in to see this image.]



A 7.62mm semi-automatic carbine with an effective range of 400 meters,
the SKS has a 10 round integral magazine and an ROF of 30-35 rounds per
minute. The SKS resembles a conventional bolt action rifle but is
equipped with an integral folding bayonet under the muzzle. Used
extensively by the VC, it weighed 3.86kg, had a length of 1020mm and a
muzzle velocity of 735m per second.

Cạc-bin (carbine) 7 ly 62 bán tự động với tầm bắn
400 m, SKS có tổng cộng 10 viên, và ROF là 30-35 viên trong một phút.
SKS được coi là súng chiến đấu thông dụng và được trang bị thêm lưỡi lê
ở đầu họng súng. Được sử dụng rộng rãi trong quân đội Việt Nam. Nặng
3.86 kg, và dài 1020 mm. Tốc lực nòng là 735 m một giây.




RPD-7.62mm GPMG



[You must be registered and logged in to see this image.]



The standard infantry squad support weapon, the RPD was analogous to
the US M-60 and fired a 7.62mm slug from a 100 round belt which was
usually contained in a drum mounted below the gun. The drum itself
could be changed in a matter of seconds by an experienced gunner and
protected the ammo from dirt and hence jamming. With a maximum rate of
cyclic fire of about 150 rounds per minute, an effective range of 800m
and rapid reload time, this light and uncomplicated weapon was capable
of laying down sustained heavy fire. The gunner was usually accompanied
by an assistant acting as an ammo carrier, loader and capable of taking
over as the primary gunner in the event of the main gunner becoming a
casualty. The RPD was approximately 1036mm in length (521mm barrel )
and had a muzzle velocity of 700m per second.

Vũ khí tiêu chuẩn cho bộ binh, RPD tương tự như M60
của Mỹ và dùng đạn 7ly62 được chứa trong băng 100 viên, và băng đạn
được chứa trong hộp tròn nhỏ treo dưới súng. Hộp đạn được thay nhanh
chóng bởi tay súng có kỹ thuật tốt, hộp đạn còn có mục đích bảo vệ đạn
khỏi bụi bẩn do đó tránh kẹt đạn. Với tỉ lệ quay khoảng 1500 vòng một
phút, tầm bắn 800 m, thời gian nạp đạn nhanh, nhẹ và không phức tạp nên
nó có thể sử dụng trong các trận đánh lớn. Người bắn RPD có sự hỗ trợ
của một đồng đội để khuân vác, nạp thêm đạn. RPD dài xấp xỉ 1036 mm
(nòng dài 521 mm) và tốc lực nòng là 700 mét một giây.




MAT49 modified 7.62mm SMG



[You must be registered and logged in to see this image.]





PPSh41 7.62mm SMG



[You must be registered and logged in to see this image.]



Designed by the Soviets in 1940 and adopted for issue in 1941, the
PPSh41 met the Red Army's need for an easily mass-produced, rugged
weapon. It became very popular with German soldiers fighting on the
Eastern Front and was converted by German armorers to fire 9-mm
Parabellum rounds.

Liên Xô thiết kế năm 1940 và đưa vào sử dụng năm
1941. PPSh41 được Hồng Quân sản xuất rộng rãi. Nó trở nên phổ biến cho
quân Đức trong cuộc chiến Đông Âu và được chuyển sang dùng loại đạn 9
ly của Đức.




The weapon had a fire-rate selector lever positioned just in front of
the trigger, allowing the rate of fire to be changed rapidly without
the weapon moving off the the point of aim.

Súng có khóa để chỉnh tốc độ bắn ở phía trước cò súng. cho phép chỉnh nhanh chóng mà không cần phải buông súng ra



The two-piece bolt handle allows the bolt to be locked in either the forward or the rear position.

Báng súng là hai thanh thép, có thể khóa lại hướng về phía trước hoặc phía sau.



The original weapon had two different magazines; a 71-round drum or a
35-round box. Most of the weapons used in Vietnam used the box magazine
but this may have been a result of the Chinese connection since the PRC
Type 50 differed only slightly from the PPSh41, mainly in that it only
fitted the 35-round box magazine.

Nguyên thủy có hai loại đạn để sử dụng: hộp đạn 71
viên và 35 viên. Hầu hết quân Việt Nam dùng loại nhỏ, có thể do liên
minh với Trung Quốc, họ dùng loại PRC đời 50, chỉ khác biệt nhỏ với
PPSh41 và xài loại hộp nhỏ 35 viên.




The most interesting variant of the weapon was the K50M, which was the
Vietnamese modification of the PRC Type 50. The Vietnamese removed the
wooden butt stock and replaced it with a wooden pistol grip and a
French-style sliding wire butt stock similar to that on the MAT49. At
the front end of the weapon they shortened the perforated barrel
jacket, left off the muzzle brake, and attached the foresight to the
barrel, giving the gun a shape strongly reminiscent of the MAT49. The
K50M was about 500-g (1.1-lbs) lighter than the PPSh41 at 3.4-kg
(7.5-lbs) as opposed to 3.9-kg (8.6-lbs).

Sự thay đổi hay nhất là K50M, do quân Việt Nam cải
tiến từ PRC loại 50. Quân Việt Nam bỏ đi báng gỗ và thay bằng báng gỗ
trượt kiểu của Pháp tương tự với MAT49. Làm cho súng ngắn hơn, cộng
thêm khoan nòng để giảm nhiệt, bỏ đi bộ đầu ruồi giúp súng ngắn hơn và
trông giống MAT49 hơn. K50M nặng khoảng 500 g, nhẹ hơn PPSh41 3.4 kg so
với trọng lượng 3.9 kg của nó




The weapons were all blowback operated and had an effective range of about 150-m (164-yards).

Tất cả tự nạp đạn và có tầm ảnh hưởng khoảng 150 m



Chicom Type-56, 7.62mm ASSAULT RIFLE



[You must be registered and logged in to see this image.]



The Chinese copy of the original Soviet AK-47, the Type-56 has a folding metal stock.

Trung Quốc lấy từ nguyên mẫu của AK47 và loại 56 có thể gập lại được



Type-24, 7.92mm HEAVY MACHINEGUN



[You must be registered and logged in to see this image.]



A Chinese copy of the German WWI vintage Maxim machine gun often used in an air defense role.

Trung Quốc chế biến theo súng WWI của Đức, được coi là súng máy thường được sử dụng trong phòng không.



RPG-7 ROCKET LAUNCHER



[You must be registered and logged in to see this image.]



The RPG-7 (CHICOM Type-69) is a muzzle loaded, shoulder fired antitank
grenade launcher. The VC and NVA used the RPG7V, a Soviet produced
short-range, anti-Armour, rocket-propelled grenade, from 1967 against
armored vehicles, defensive positions, personnel and even helicopters.
This smoothbore, recoilless weapon consists of a launcher tube fitted
with a simple iron sight or a more sophisticated telescopic
range-finding sight, and a HEAT rocket grenade projectile with a
caliber of 40mm. The RPG-7 has an effective range of 300 meters against
moving targets and up to 500 meters against stationary targets. The
projectile explodes either on impact or at its maximum range of 920
meters.

RPG7 nạp đạn ở họng súng. Gác trên vai bắn lựu đạn
chống tăng. NVA sử dụng. Liên Xô sản xuất, tầm ngắn, chống pháo và lựu
đạn. Từ năm 1967 được sử dụng để chống các xe vận chuyển đạn dược,
phòng thủ vị trí, cá nhân cũng như chống trực thăng. nó đơn giản là một
ống phóng lựu trơn tru, trong khó xoáy trong nòng. Có dĩa ngắm mục tiêu
và có thể xác định được lựu đạn có đường kính 40 mm. RPG7 có tầm hoạt
động 300 met để hủy mục tiêu di động và 500 mét đối với mục tiêu cố
định. Lựu đạn được bắn ra khi nổ có thể ảnh hưởng xa nhất là 920 mét




TOKAREV TT33 7.62mm AUTOMATIC PISTOL



[You must be registered and logged in to see this image.]





First introduced in the 1930’s and utilizing the self-cocking design
from Colt, the Tokarev TT33 was used extensively by Soviet forces in
WWII and was produced in nearly all Warsaw Pact countries and the PRC.



The Chinese Type-54 could be distinguished from the Soviet TT33 by the
serrations on the slide and by the Chinese ideograms on the pistol grip
(the Soviet weapon had a star in the center of the pistol grip). The
Soviet TT33 had alternate narrow and wide vertical cuts, whereas the
Type-51 and Type-54 had uniform narrow markings, to aid gripping the
slide when manually cocking the weapon.



There was no safety mechanism but the hammer could be locked at
half-cock and the weapon was normally carried around with a round in
the chamber.



Production of the weapon in the USSR stopped in 1954, but continued in
other Communist countries, notably the PRC. The pistol was widely used
by VC and NVA officers.



The Tokarev TT33 fired the Soviet 7.62-mm x 25 Type-P pistol cartridge.
It operated on a recoil single action and was semi-automatic, feeding
ammunition from an 8-round box magazine. Maximum ROF was 32-rpm and
with a maximum effective range out to about 50-meters.



The pistol was quite heavy, weighing about 1-kg (2.2-lbs) when loaded and was 196-mm (7.72-inches) in length.



MAKAROV PM 9.5mm AUTOMATIC PISTOL



[You must be registered and logged in to see this image.]



The Pistol Makarov (PM) replaced the Tokarev in the early 1950’s in the
Warsaw Pact countries and was produced in the PRC as the Type-59.
originally copied from the West German Walther PP (police pistol) of
the 1930’s the Makarov was chambered for the 9-mm round rather than the
7.65-mm cartridge of the original pistol and used Soviet 9-mm x 18
ammunition rather than the original NATO 9-mm x 19.



Following it's introduction the Makarov became the standard pistol in most Euro-Asian Communist forces.



The pistol was operated by a blowback, self-loading double action, and
loaded from an 8-round box magazine. It measured 160-mm (6.3-inches) in
length and weighed 800-grammes (1.8-lbs) when loaded.



The pistol grip was slightly bulky, making firing it a little
uncomfortable. Soviet manufactured weapons had a star in the center of
the pistol grip. There was a simple safety catch at the rear of the
slide, and a slide stop on the outside of the receiver, both of which
could be operated by the firer’s thumb if right handed.



81 mm Mortar



[You must be registered and logged in to see this image.]



75 mm Recoilless Rifle



[You must be registered and logged in to see this image.]






Thanks cho bài viết:
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

Các loại súng sử dụng chiến tranh ở Việt Nam của Mỹ>>>>

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
†™The Best Friends™† :: ♥ Khu Học Trò ♥ :: Thư Viện Đề Thi :: Lịch Sử-
Diễn Đàn The Best Friends
Địa chỉ: Số 97, đường Nguyễn Huệ, phường 1, TP Cao Lãnh
Xây dựng và phát triển bởi các thành viên TBF .
.
.

Lý lịch của bạn

Thông tin của bạn
Tùy chỉnh giao diện
Sửa chữ ký
Sửa hình đại diện
Danh sách bạn/thù
Hộp thư của bạn

Liên hệ

Lí Lịch ADMIN
Đóng Góp Ý Kiến
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog